Người đi dép cao su

Người đi dép cao su

* 7,686 lượt xem * 59 lượt tải

20,000 đ

Tác giả : Kateb Yacine

Dịch giả : Phùng Văn Tửu

Số trang : 216

Năm xuất bản : 0

Giá sách in : 00 đ

Trích đoạn Mục lục
Tuy nhiên , phía dưới , đằng sau các sự kiện tưởng như rời rạc ấy có mối liên hệ lô gích hàm ẩn . Cách xử lý mối quan hệ giữa trục không gian của kết cấu văn bản và trục thời gian của sự kiện , giữa cái ảo và cái thực , giữa hư cấu nghệ thuật và tính cách chân thực của nhân vật  lịch sử cũng là những mặt thành công của Yacine trong vở kịch này . Một vở kịch tất nhiên gồm toàn những lời thoại (kèm theo các lời chỉ dẫn in nghiêng) . Với các nhân vật không có tên , nhà văn có thể thoải mái sáng tạo ngôn từ của họ , miễn sao phù hợp với tính cách và hoàn cảnh .
Với loại nhân vật tượng trưng như Đại úy Mac , Đại úy Supermac …, lời thoại được cân nhắc kỹ hơn : máy bay xuất phát đi ném bom nguyên tử xuống Hiroshima lúc 8h15’ và bom rơi ở độ cao mười ngàn mét…
Ngôn từ “chính xác” trên đây là cơ sở cho cuộc đối thoại tưởng tượng với những lời lẽ hư cấu của Đại úy Mac và Đại úy Supermac ở Hồi VI trong một doanh trại tại Sài Gòn vừa trò chuyện vừa gọi Alabama phục vụ các món ăn đặc sản. Mỹ có ý định sử dụng máy bay ném bom chiến lược B 52  và cả vũ khí nguyên tử để giải quyết thế bí ở chiến trường Việt Nam .
Cái khó xử lý hơn cả là ngôn từ của các nhân vật có thật , được ghi bằng tên thật trong kịch , nhất là các nhân vật đã đi vào lịch sử . Chẳng thể không hư cấu vì đây là tác phẩm văn nghệ có liên quan đến lịch sử , chứ không phải cuốn sách nghiên cứu về lịch sử . Yacine cố gắng lựa chọn những ngôn từ , những hình ảnh chính xác do lịch sử cung cấp trong điều kiện có thể .
Triệu Thị Trinh chỉ bước ra sân khấu một lần với duy nhất một lời thoại : “Ta muốn cưỡi cơn gió mạnh / Đạp luồng sóng dữ / Nhuộm đỏ biển khơi / Bằng máu của bọn quỷ dữ kia / […] Ta không thể cam tâm / Uốn lưng / Cúi đầu / Sống làm tì thiếp người ta” (Hồi I). Khán giả , nếu là người Việt Nam , ai cũng nhận ra ngay Bà Triệu của mình .
Khi trăm ngàn quân địch tràn sang xâm chiếm nước ta , nhà vua ra lệnh : “Đây là chiến thuật của ta / Một chiếc  võng / Cho ba quân  lính / […] Một người nằm võng hai người khiêng / Cứ sau mỗi chặng đường lại thay phiên / Để người khác lên nằm trên võng” (Hồi I) ; thì đấy chính là vua Quang Trung trong cuộc hành quân từ Phú Xuân ra Bắc đánh quân Thanh .
Có trường hợp hai sự kiện có thực , hai ngôn từ chính xác ở những thời điểm và địa điểm cách xa nhau được tác giả kịch bản ghép bên cạnh nhau một cách có dụng ý lại tạo thành cái ảo đậm sắc thái nghệ thuật . Pierre Loti  từng là sĩ quan hải quân trong quân đội viễn chinh Pháp sang xâm lược Việt Nam cuối thế kỷ XIX , sau trở thành nhà văn   . Yacine đưa Pierre Loti vào thành một nhân vật của Người đi dép cao su . Vẫn ở Hồi I , sau cảnh Quang Trung hành quân thần tốc , đại phá quân Thanh , ba anh em Nguyễn Huệ cùng các nông dân rút hết vào hậu trường , thì Pierre Loti ra sân khấu , ánh sáng rọi vào cảnh dân quê Nam Bộ chết chóc la liệt , ngổn ngang . Nhân vật Pierre Loti chỉ có một lời thoại , không phải những câu thơ tự do ngắn , mà là gần hai trang văn xuôi thuật lại cảnh quân Pháp tàn sát cả ngàn nông dân trong một trận càn quét : “Những người An-nam gục ngã từng đám chỉ trong vòng chưa đầy năm phút bởi các phát súng bắn tỉa và các loạt đạn […] Thực vậy , những kẻ chạy trốn đang bị chờ đợi ấy , họ đã đi vào tầm ngắm của các lính thủy trên con tàu Atalante . Người ta đã phát hiện ra họ túm tụm từ trong làng chạy ra […] Rồi người ta lấy chuyện đếm xác chết để mua vui … phải tới tám trăm đến một ngàn . Các lính thủy tranh luận nhau , thậm chí đánh cuộc với nhau về số lượng người chết …” (Hồi I) . Ở cuối trang này trong kịch bản , Yacine chú thích rõ hai trang ấy là phóng sự của Pierre Loti đăng báo Le Figaro năm 1883 . Nhà đạo diễn để cho nhân vật Pierre Loti “diễn” hai trang ấy thành lời ? hay “đọc” những hàng chữ đó ? hay chỉ để Pierre Loti đứng nhìn những xác chết ngổn ngang trong khi từ hậu trường vọng ra giọng ai đó “đọc” đều đều ?
Khi Pierre Loti vừa dứt lời là lời của một nhóm đồng thanh gần như lấy từ bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu (1822 - 1888) : “Chưa quen cung ngựa chưa tới trường nhung / Chỉ biết ruộng trâu ở theo làng hộ…/ Ngoài cật có một manh áo vải / Trong tay cầm một ngọn tầm vông”     
Trong thực tế , bài văn của Nguyễn Đình Chiểu là để tế hơn hai mươi nghĩa sĩ hy sinh ở Cần Giuộc (Long An) ngày 16 .XII.1861 ; còn bài phóng sự của Pierre Loti đăng báo Le Figaro là thuật lại sự kiện ở Thuận An (Thừa Thiên - Huế) hơn hai mươi năm sau (ngày 20.VIII.1883) .
Khán giả là người phương Tây ít biết đến bài văn tế của Nguyễn Đình Chiểu , khi xem diễn cảnh này có thể xúc động , nhưng khác với mối xúc động của khán giả là người Việt . Đến đây , sân khấu chuyển cảnh , Pierre Loti và nhóm nhân vật đồng thanh rút hết vào hậu trường , Nguyễn Ái Quốc xuất hiện lần đầu tiên . Khán giả hiểu rằng Nguyễn Ái Quốc tiếp nối truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm giành độc lập của dân tộc Việt Nam từ bao đời , và cả truyền thống cách mạng thế giới .
Các biện pháp xử lý của Yacine được phát huy thành công khi xây dựng nhân vật trung tâm Nguyễn Ái Quốc - Bác Hồ thành một hình tượng nghệ thuật thực sự mà vẫn bảo đảm tính chân thực của một nhân vật lịch sử , chẳng những thế còn tô đậm tính chân thực ấy thêm lên .
“Người đi dép cao su” trước hết và chủ yếu được khai thác ở góc độ một con người của đời thường như nhan đề vở kịch gợi lên . Con người bình dị mà lớn lao . Nguyễn Ái Quốc mặc quần áo thủy thủ khi xuất hiện lần đầu tiên trên sân khấu và chỉ có một mình , lôi cuốn toàn bộ sự chú ý của khán giả . Từ đầu vở kịch đến đây , chưa có cảnh nào chỉ duy nhất một nhân vật như thế . Bên nhân vật Triệu Thị Trinh còn có Nhà truyền giáo đóng vai trò như người dẫn truyện ; bên Pierre Loti còn có nhóm nhân vật đồng thanh …
Lời đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc là lời bộc lộ tâm trạng , Yacine chắt lọc biến báo từ Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch  : “Tôi xuống tàu làm phụ bếp / Tàu chở các thực dân đi nghỉ hè / Họ mày mày tao tao với chúng tôi như ở Đông Dương / Nhưng đến Marseille tôi được gọi bằng ông” (Hồi I) .
Tướng Decoq  ra sân khấu cùng với một viên sĩ quan; rồi đến nhóm nhân vật đồng thanh người châu Phi bị bắt đi lính…, bị đối xử tàn tệ . Nguyễn Ái Quốc hòa vào họ , trò chuyện với họ .
Tiếp đó , hai sự kiện Nguyễn Ái Quốc làm nghệ thợ ảnh kiếm sống ở Paris và Nguyễn Ái Quốc bị cảnh sát theo dõi được nhà soạn kịch lắp ghép cạnh nhau , hay đúng hơn là lồng vào nhau thành một cảnh khá độc đáo (Hồi I) .
Nghệ thuật lắp ghép của Yacine chuyển sang một dạng khác ở Hồi II . Lời thoại của nhân vật Nguyễn Ái Quốc thời gian ở Trung Hoa đều rút ra từ tập Nhật ký trong tù . có thể nói Yacine đã hình dung , đã hiện thực hóa , đã sân khấu hóa những tình huống từ tập thơ ấy . Yacine ghép hai sự kiện Nguyễn Ái Quốc bị bắt ở Trung Quốc và bị rụng một chiếc răng vào với nhau .
Thực ra Nguyễn Ái Quốc rụng chiếc răng vào một dịp khác . Bài “Bốn tháng rồi” ở Nhật ký trong tù có những câu : “Bốn tháng cơm không no / Bốn tháng đêm thiếu ngủ / […] Cho nên / Răng rụng mất một chiếc / Tóc bạc thêm mấy phần…” (Nam Trân dịch) . Nhà soạn kịch ghép luôn vào cảnh bị bắt . Liền ngay sau đó , ông để cho tên cảnh binh trói quặt hai tay Nguyễn Ái Quốc ra sau lưng , và bố trí một tên cảnh binh thứ hai từ hậu trường đi ra, vai vác con lợn : Nguyễn Ái Quốc nói : “Họ cõng con lợn / Con người thì họ dắt lôi đi” . Tên cảnh binh đáp : “Mi đáng giá không bằng con lợn”…
Ta biết ở Nhật ký trong tù có bài “Cảnh binh khiêng lợn cùng đi” : “Khiêng lợn lính cùng đi một lối / Ta thì người dắt lợn người khiêng / Con người coi rẻ hơn con lợn / Chỉ tại người không có chủ quyền” (Nam Trân dịch) .
Nguyễn Ái Quốc đã đến nhà tù , bị nhốt trong xà lim . Tên cảnh binh luồn tay qua song sắt đưa cho một bát cơm . Nguyễn Ái Quốc : “Chỗ ở chính quyền cấp / Cơm ăn nhà nước ban / Cảnh binh đi tuần quanh / Chỉ nghỉ ngơi ngắm cảnh / Quá vinh dự cho mình”
Ta nghĩ ngay đến bài “Pha trò” của Nhật ký trong tù : “Ăn cơm nhà nước ở nhà công / Lính tráng thay phiên đến hộ tòng / Non nước dạo chơi tùy sở thích / Làm trai như thế cũng hào hùng” (Văn Trực - Văn Phụng dịch).
Nhiều cảnh trong vở kịch này được lắp ghép độc đáo như vậy . Sau đó , cảnh chuyển từ Trung Quốc về Việt Nam thời kỳ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 . Bao nhiêu nhân vật , bao nhiêu lời thoại , xen vào đó Yacine chỉ chọn vài lòi tiêu biểu nhất của Nguyễn Ái Quốc . Nhóm dân chúng Việt Nam kéo ra sân khấu . Bên Nguyễn Ái Quốc có nhân vật Tướng Giáp . Xa xa là Tướng Pháp Alexandre và Lư Hán , Tướng Tàu . Nguyễn Ái Quốc kêu gọi : “Tiến lên hỡi đồng bào ! / Ai có súng dùng súng  /  Ai có gươm dùng gươm / Ai không có súng có gươm / Thì dùng cuốc xẻng gậy gộc !” (Hồi II)
Lời kêu gọi thiêng liêng chẳng ai lúc đó không biết. Chỉ có điều nó được sắp xếp thành thơ trong vở kịch của ông. Ngay đên Tuyên ngôn độc lập cũng được sắp xếp thành thơ : “Hôm nay ngày 2 tháng 9 năm 1945 / Chúng tôi tuyên bố độc lập / Và chúng tôi thành lập nước Việt Nam / Dân chủ cộng hòa” (Hồi II) .
Nhân vật Nguyễn Ái Quốc sắp được chuyển thành nhân vật Bác Hồ .
Nguyễn Ái Quốc - Bác Hồ là linh hồn của Hồi II , ngọn nguồn của Cách mạng Tháng Tám và người chèo lái chín năm kháng chiến chống Pháp, nhưng hình tượng lớn lao ấy lại được nhà soạn kịch xây dựng hàm ẩn dưới bóng dáng nhà thơ của Nhật ký trong tù và con người bình dị ngồi cắt chiếc săm ô tô hỏng thành đôi dép cao su .
Khán giả chờ đợi hình tượng hoành tráng của nhân vật Bác Hồ , Chủ tịch nước ở những hồi kịch tiếp theo ư ? Không có . Nhân vật chỉ nói một lời : ”Đến đây , cứ đến đây , em ơi !” với nhân vật tượng trưng Tướng Napalm ở Hồi III là hồi có sự kiện Điện Biên Phủ . Yacine không để nhân vật Bác Hồ xuất hiện cùng với các chính khách quốc tế Mars , Engels , Staline , Niquesonne , Mao , Nikita…(Hồi IV) . Nhân vật cũng không xuất hiện ở Hồi V cùng với Đức Phật , Chúa Jesus và các nhân vật tai to mặt lớn của chính quyền Sài Gòn. Tác giả cũng không đưa nhân vật này sang khu Harlem bên Hoa Kỳ ở Hồi VI bên các nhân vật Tổng thống Mỹ ,Giáo chủ Spellman , Chủ ngân hàng…
Đến Hồi VII , nhân vật Bác Hồ mới xuất hiện và liên quan đến một con người bình thường : anh Trỗi . Trong vở kịch này , hiếm có nhân vật xuất hiện hết hồi này sang hồi khác . Thế nhưng , có lẽ chẳng phải ngẫu nhiên Yacine đã để cho nhân vật Trỗi xuất hiện thoáng qua ở Hồi III , ở đầu Hồi IV , ở cuối Hồi V , rồi đậm nét ở Hồi VII trong.cảnh anh bị hành hình , trước khi chết anh hô Hồ Chí Minh muôn năm !
Khán giả hiểu rằng Bác Hồ chính là linh hồn cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Miền Nam Việt Nam .
Đến đây , như ta biết , nhân vật Bác Hồ mới lại xuất hiện , vẫn là con người bình dị của đời thường , và Yacine vẫn dùng biện pháp nghệ thuật lắp ghép quen thuộc . Tiếp ngay sau tiếng hô cuối cùng của anh Trỗi là lời Bác Hồ đối đáp với Phóng viên : “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua  - Ngài là thi sĩ ? - Một thói quen cũ để giết thời gian trong tù”...
Qua những lời đối thoại trên thấp thoáng thơ chúc Tết của Bác Hồ dịp Tết Mậu Thân (1968) và bài Mở đầu tập Nhật ký trong tù  ... Sau đó , cuộc trò chuyện giữa Bác Hồ và Phóng viên chuyển sang những chuyện sinh hoạt hàng ngày .
Một nhân vật bình dị , đời thường , nhưng lại lớn lao . Kết thúc vở kịch là một cảnh đối lập độc đáo , sự đối lập giữa Tổng thống Niquesonne đang sống trong phòng làm việc ở Nhà Trắng và Bác Hồ vừa qua đời . Tông thống Mỹ Niquesonne thì bị dân Mỹ biểu tình coi là một thây ma chính trị , còn Bác Hồ thì được dân chúng Việt Nam tôn vinh qua lời dân chúng đồng thanh xen kẽ với lời của Lĩnh xướng : “Người đi trong giấc mơ của chúng ta / Người đi dép cao su / Người của tối tăm và nghèo khổ / Người ngủ không nhiều / Người đi trong những giấc mơ của chúng ta / Người quét nhà và nhà chiến lược / Người cùng khổ có vầng trán cao cao / Người mà ai cũng gọi là Bác Hồ / Hồ Chí Minh , người soi sáng / Người mà cà dân tộc nhắc tên / Người ngủ không nhiều / Người đi trong những giấc mơ của chúng ta / Người đi dép cao su” .
Khán giả cảm nhận rõ hình tượng con người bình dị đời thường nhưng lại vô cùng lớn lao khi vở kịch hạ màn  .
 Bản dịch này chắc chắn không tránh khỏi còn nhiều thiếu sót ; chúng tôi chân thành mong được sự góp ý của bạn đọc . Nhân đây chúng tôi  xin cảm ơn Hội Nhà Văn Việt Nam và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học đã tạo điều kiện để bản dịch này được ra mắt bạn đọc . Chúng tôi cũng xin cảm ơn bác Vũ Triệu , nguyên bí thư thứ nhất Đại sứ quán Việt Nam tại Angiêri đã cung cấp cho chúng tôi bút tích của  K. Yacine đề tặng cuốn sách cho bác Vũ Triệu [“Tặng đồng chí Vũ Triệu để kỷ niệm Việt Nam tổ quốc của những người tự do - Alger 4 tháng Tám 1980”] . Trong tấm ảnh nhỏ , từ phải sang trái là K. Yacine , Vũ Triệu và danh họa Angiêri M. Issiakhem .   
                              PHÙNG VĂN TỬU
                        Hà Nội , tháng 12 năm 2010

Copyrights © by sachweb team. All rights reserved